Cấp Thoát Nước - 07CM2D

Diễn đàn Chuyên Ngành Cấp Thoát Nước - Môi Trường Nước khoa Môi Trường & BHLĐ - Đại Học Tôn Đức Thắng
 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng NhậpĐăng Nhập  

Share | 
 

 Tìm hiểu cơ bản về kỹ thuật ép xung

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 304
Join date : 12/01/2008
Age : 28
Đến từ : Đức Linh - Bình Thuận

Bài gửiTiêu đề: Tìm hiểu cơ bản về kỹ thuật ép xung   Sat 13 Sep 2008, 9:02 am

Việc ép xung (overclock) để tăng sức mạnh hệ thống diễn ra trước khi
xuất hiện PC, được thực hiện trên nhiều thiết bị nhỏ và đơn giản hơn,
nhưng huyền thoại về vi xử lý 8088 8 MHz được ép lên 12 MHz đã khởi đầu
trào lưu này.



Sau đó, ép xung được chia làm hai nhánh: số đông ép xung để có khả năng
hoạt động tốt nhất trên túi tiền hạn chế; số ít ép xung để có được sức
mạnh “siêu đẳng” bằng bất kỳ giá nào.


Người ta có thể ép xung cho CPU, RAM và card đồ họa. Ảnh: Tom's Hardware.

Khái niệm về ép xung

Ép xung là hoạt động làm tăng tốc độ của bất kỳ thành phần nào lên cao
hơn mức chỉ định của nhà sản xuất. Từ “đồng hồ” bắt nguồn từ việc người
ta dùng máy tạo dao động (oscillator) để thiết lập một nhịp mà từ đó
tạo nên những tần số cao hơn. Các thiết bị đơn giản nhất hoạt động với
tần số của máy tạo dao động này để vi xử lý 8 MHz cần một đồng hồ 8
MHz. Việc ép xung các vi xử lý “đời đầu” này khá đơn giản, chỉ là thay
mặt đồng hồ từ 8 thành 12 MHz.

Khi máy tính ngày càng phức tạp hơn, một mặt đồng hồ không thể hỗ trợ
nhiều mức tốc độ mà các loại bus dữ liệu khác nhau yêu cầu. Dù bo mạch
chủ có thể chứa vài máy tạo dao động cho các thiết bị, một mạch điện
tích hợp thêm lại phải hỗ trợ các mức tốc độ khác nhau cho nhiều giao
tiếp. Vì vậy, người ta nghĩ ra thiết bị tạo tín hiệu xung đồng hồ
(clock generator) theo nhiều bội số và phân số của máy tạo dao động.
Thiết bị tạo tín hiệu xung đồng hồ này càng ngày càng tinh vi hơn, đến
mức các bo mạch và một vài thành phần gắn thêm giờ đều hỗ trợ các tần
số tinh chỉnh trong vài thao tác.

Sự xuất hiện của thiết bị tạo tín hiệu xung đồng hồ có thể tinh chỉnh
đã cho phép kỹ thuật ép xung được thực hiện mà không cần thay các thành
phần như mặt đồng hồ. Những tiến bộ xa hơn trong sản xuất BIOS và phần
mềm firmware giờ cũng giúp tốc độ của thiết bị được cải thiện mà không
phải thay đổi cài đặt chân cắm (jumper).

Lợi ích và rủi ro

Ép xung cho phép hệ thống cấp thấp có thể đạt đến mức độ hoạt động mạnh
mẽ hơn. Ví dụ, chip Pentium IV 3,0 GHz có thể đạt 3,4 GHz. Tuy nhiên,
nguy cơ lớn nhẩt của việc này là gây hư hại phần cứng, mất dữ liệu. Vì
vậy, người ta phải cho hệ thống qua các quy trình kiểm nghiệm để tránh
rủi ro. Các yếu tố sau đây ảnh hưởng lớn tới “sự sống” của máy.

Tốc độ: Các mạch điện tích hợp có tuổi thọ nhất định vì mỗi hoạt động
sẽ làm thoái hoá chúng ở một mức nhỏ. Việc tăng gấp đôi số vòng hoạt
động trong mỗi giây sẽ làm tuổi thọ này giảm đi một nửa.

Nhiệt lượng: Các mạch điện thoái hoá nhanh hơn khi nhiệt độ tăng. Nhiệt
độ cũng là kẻ thù của sự ổn định trong hệ thống nên người ta sẽ phải
tìm nhiều cách để giữ máy luôn mát mẻ. CPU được thiết kế để hoạt động
từ -25 đến 80 độ C nhưng thông thường phải luôn giữ chúng dưới 50 độ và
càng mát càng tốt.

Hiệu điện thế tăng cho phép các tín hiệu truyền đi mạnh hơn nhưng cũng
khiến mạch điện thoái hoá nhanh và gây hỏng hóc. Việc tăng hiệu điện
thế cũng song hành với tăng nhiệt độ, dù không làm hỏng chip ngay nhưng
sẽ dần dần làm giảm tuổi thọ của nó.

Những thành phần có thể ép xung

Người ta có thể tối ưu hóa hoạt động chủ yếu cho vi xử lý, bộ nhớ và
chip đồ họa. Những thành phần khác như bus PCI và PCI Express, cổng
serial hay USB cũng có thể áp dụng phương pháp này nhưng kết quả không
rõ ràng.

Ép xung CPU

Lõi của các vi xử lý hiện nay hoạt động ở nhiều bội số của tốc độ đồng
hồ. Ví dụ Pentium III 500 MHz chạy được gấp 5 lần front side bus 100
MHz (5 x 100 MHz = 500 MHz). Chỉnh bội số này hoặc tần số lên cũng mang
lại tốc độ cao hơn. Ví dụ: 600 MHz có thể đạt được bằng cách nâng bội
số bằng 6 hoặc tăng tốc độ bus lên 120 MHz để 5 x 120 MHz = 600 MHz.

Khó khăn duy nhất với cách phân tích này là những vi xử lý loại đó lại
có bội số cố định nên việc nâng 5x lên 6x không phải lựa chọn của người
ép xung. Tuy nhiên, người ta có thể nâng bội số với một số mẫu chip
khác sau khi "bẻ khóa". Ví dụ, vi xử lý Slot A Athlon đã được tăng tốc
theo cách này trước khi sản phẩm thương mại xuất hiện trên thị trường.

Tần số CPU vẫn bắt nguồn từ bội số của tốc độ đồng hồ chứ không phải
tốc độ dữ liệu. Front side bus 1066 của Intel hoạt động trên tốc độ
đồng hồ là 266 MHz, HyperTransport Interconnect 2000 MHz của AMD dùng
đồng hồ tốc độ 200 MHz. Điều này có nghĩa là một chip Athlon 64 X2
4600+ của AMD dùng bội số 12x để đạt được mức 2,4 GHz, trong khi Core 2
Duo E6600+ của Intel đạt 2,4 GHz bằng cách dùng bội số 9x.

Ép xung bộ nhớ

Hầu hết các bộ nhớ có thể tối ưu hóa ở mức độ nào đó nhưng khá phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng của chip, thiết kế bo mạch và lắp
ráp module. Ép xung bộ nhớ đã trở nên phổ biến đến mức các nhà sản xuất
RAM đã công bố những sản phẩm nhanh nhất khi áp dụng cách này.

Lợi thế của ép xung bộ nhớ là vượt xa khả năng hoạt động cơ bản của
chúng để có tốc độ nhanh tương đương CPU. Ví dụ, Pentium III được ép
xung tới 150 MHz sẽ phối hợp tốt với bộ nhớ cũng đạt tốc độ này.

Một số tay ép xung còn thiếu kinh nghiệm thường đẩy RAM quá giới hạn ổn
định của nó và khi thất bại lại cho rằng đó là do thành phần sai. Sự
"hiểu nhầm" này bắt nguồn từ menu BIOS hiển thị tốc độ bộ nhớ như tốc
độ dữ liệu liên quan đến CPU không được ép xung. Do trình điều khiển bộ
nhớ chạy RAM với tốc độ như CPU nên bất cứ sự thay đổi nào về tốc độ
CPU cũng gây ra ảnh hưởng nhất định đối với tốc độ bộ nhớ.

Ví dụ một chip FSB1066 Core 2 Duo đi kèm bộ nhớ DDR2-533 đều hoạt động
ở tốc độ đồng hồ 266 MHz. Chọn cài đặt bộ nhớ 533 MHz và ép xung CPU
lên 333 MHz sẽ khiến bộ nhớ chạy ở mức 667 MHz, mặc dù BIOS vẫn báo là
533 MHz. Một số nhà sản xuất phải cho thêm hai thông báo tốc độ gốc và
tốc độ thực sự. Còn những ai không có thông báo này thì cần làm phép
tính thủ công.

Ép xung bộ nhớ cũng có những rủi ro như mất dữ liệu khi chương trình bị lỗi, hỏng hóc do quá nóng...

Ép xung card đồ họa

Tần số của card đồ họa độc lập với cài đặt của bo mạch chủ mà phụ thuộc
vào đồng hồ và mạch điện điều khiển riêng. Các cài đặt này được lưu ở
firmware của card, cho phép các chương trình ép xung card đồ họa đặc
biệt chỉnh được tốc độ vi xử lý và RAM đồ họa ngay trong Windows. Thiết
bị này cũng đối mặt với nhiều rủi ro về nhiệt độ, gây ra tình trạng
hỏng hình ảnh khi ép xung thất bại.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://capthoatnuoc.thegoo.us
 
Tìm hiểu cơ bản về kỹ thuật ép xung
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Cấp Thoát Nước - 07CM2D :: Chia sẽ kiến thức :: Phần cứng, mạng-
Chuyển đến